
Chăm sóc ống dẫn lưu Kehr (Ống chữ T)
Ống Kehr là một ống nhựa nhỏ được đặt vào đường mật sau khi mổ lấy sỏi
Mục đích:
- Bảo vệ đường mật: Giúp xả bớt dịch mật, giảm áp lực để vết khâu trên đường mật mau lành.
- Theo dõi bệnh: Giúp bác sĩ kiểm tra màu sắc và lượng dịch mật để biết tình trạng hồi phục.
- Gắp sỏi sót: Ống sẽ tạo một “đường hầm” an toàn từ da vào đường mật. Vài tuần sau mổ, nếu kiểm tra thấy vẫn còn sỏi, bác sĩ sẽ luồn một ống soi siêu nhỏ qua đường hầm này để tán sỏi nhẹ nhàng mà.
Theo dõi và chăm sóc: Cần theo dõi cẩn thận tình trạng tắc nghẽn của ống, đặc biệt nếu ống bị gập góc hoặc quá chật.
- Trong phần lớn thời gian sau mổ, ống phải luôn được mở thông để dịch mật dư thừa và cặn bẩn chảy tự do ra túi chứa.
- Chỉ được cột ống dẫn lưu khi có sự dặn dò và hướng dẫn từ bác sĩ điều trị (Lưu ý: Trong lúc đang kẹp ống, nếu thấy đau tức hạ sườn phải, quặn bụng hoặc sốt thì phải mở kẹp xả dịch ra ngay)
- Khi nào cần liên hệ ngay với bác sĩ?
- Ống vô tình bị tuột ra ngoài (tuyệt đối không tự ý nhét ống lại vào trong).
- Dịch mật đột ngột ngừng chảy dù không kẹp ống, kèm theo đau tức bụng.
- Dịch mật chuyển sang màu đỏ tươi (có máu) hoặc đục như nước vo gạo, có mủ, mùi hôi.
- Chân ống tấy đỏ sưng đau, rỉ dịch mủ hoặc rỉ quá nhiều dịch mật ướt đẫm băng gạc.
- Bạn bị sốt, lạnh run hoặc vàng da, vàng mắt trở lại.

Chăm sóc dẫn lưu áp xe gan
Dẫn lưu qua da bằng là phương pháp tiêu chuẩn cho các ổ áp xe sinh mủ ở gan, bất kể là áp xe đơn độc hay đa ổ.
Nguyên tắc điều trị:
- Đối với các ổ áp xe lớn (trên 3 cm) và có một vách, việc dẫn lưu phải luôn đi kèm với phác đồ kháng sinh.
- Phải luôn luôn để ống mở, không được cột hay gập ống
Theo dõi và chăm sóc:
- Giữ ống thông suốt: Luôn chú ý đi đứng, nằm ngủ sao cho ống không bị gập góc, xoắn vặn hay bị đè dẹp.
- Treo túi thấp hơn vị trí cắm ống: Luôn treo túi đựng dịch mủ ở vị trí thấp hơn vết chọc ống (thường ngang thắt lưng) để mủ chảy ra dễ dàng theo trọng lực.
- Vệ sinh: Giữ cho vùng da quanh chân ống luôn khô ráo. Có thể thay băng mỗi ngày hoặc khi thấy băng bị thấm ướt.
- Khi nào cần liên hệ ngay với bác sĩ?
- Ống vô tình bị tuột, sút ra ngoài (tuyệt đối không được tự nhét ống lại vào bụng).
- Đang chảy mủ bình thường tự nhiên ống không chảy nữa, kèm đau tức nặng ở vùng hạ sườn phải (vùng gan).
- Dịch chảy ra trong túi đột ngột chuyển sang màu đỏ tươi (chảy máu).
- Đột nhiên sốt cao trở lại, rét run bần bật, mệt mỏi lừ đừ (dấu hiệu nhiễm trùng bùng phát).
- Chân ống sưng đỏ, tấy đau, hoặc mủ không chảy vào trong túi mà lại trào rỉ ra ngoài chân ống làm ướt sũng băng gạc.

Chăm sóc dẫn lưu đường mật trong các bệnh lý ác tính
Dẫn lưu đường mật (như PTBD) thường được thực hiện trong các trường hợp tắc nghẽn đường mật vùng cao (do khối u rốn gan) nhằm giảm ngứa, điều trị viêm đường mật, hoặc hạ bilirubin để chuẩn bị cho hóa trị.
- Theo dõi sát 24 giờ đầu: Bệnh nhân phải được theo dõi cẩn thận trong 24 giờ đầu sau thủ thuật để phát hiện sớm các dấu hiệu chảy máu hoặc nhiễm trùng huyết.
- Theo dõi tại nhà:
- Bảo vệ ống: Ống này có thể phải lưu lại trên cơ thể một thời gian dài. Cần hết sức cẩn thận khi thay quần áo, tắm rửa hay xoay người lúc ngủ để không làm vướng víu, co kéo hoặc tuột ống.
- Vệ sinh chân ống: Vùng da quanh chỗ cắm ống phải luôn được giữ khô ráo. Hãy thay băng gạc hàng ngày hoặc ngay khi thấy băng thấm ướt dịch.
- Treo túi dịch: Nếu ống được nối với túi chứa dịch, hãy ghim túi vào vạt áo hoặc cạp quần sao cho túi luôn nằm thấp hơn vết chọc ống. Hàng ngày nên ghi lại lượng dịch mật chảy ra (bao nhiêu ml) và màu sắc dịch để báo cho bác sĩ khi tái khám.
- Tuyệt đối không được kẹp ổng trừ khi có hướng dẫn trực tiếp từ bác sĩ điều trị
- Việc bơm rửa ống dẫn lưu tại nhà hoặc địa phương cần phải được hướng dẫn kĩ từ bác sĩ điều trị
- Khi nào cần liên hệ ngay với bác sĩ?
- Ống bị tuột một phần hoặc tuột hoàn toàn ra ngoài (tuyệt đối không tự đẩy ống vào lại).
- Dịch mật đột ngột ngừng chảy vào túi (khi đang mở nắp) kèm theo đau vùng gan hoặc vàng da, vàng mắt tăng lên.
- Dịch trong ống/túi đột ngột có máu đỏ tươi hoặc máu cục (dấu hiệu chảy máu đường mật).
- Sốt, ớn lạnh, vã mồ hôi hoặc mệt mỏi rã rời (dấu hiệu nhiễm trùng).

